Quý khách thân mến! Mọi tài liệu trên trang web này đều được dịch từ các ngôn ngữ khác nhau. Chúng tôi xin cáo lỗi nếu chất lượng các bản dịch này không như ý, đồng thời cũng hy vọng rằng Quý khách sẽ thu được lợi ích từ trang web của chúng tôi. Trân trọng, Ban quản trị Website. E-mail: [email protected]

Làm thế nào insulin và glucagon làm việc để điều chỉnh lượng đường trong máu

Tuyến tụy tiết ra insulin và glucagon, cả hai đều đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh lượng đường trong máu. Hai kích thích tố hoạt động trong sự cân bằng. Nếu mức độ của một hormone nằm ngoài phạm vi lý tưởng, lượng đường trong máu có thể tăng đột biến hoặc giảm.

Cùng với nhau, insulin và glucagon giúp giữ cho các điều kiện bên trong cơ thể ổn định. Khi lượng đường trong máu quá cao, tuyến tụy tiết ra nhiều insulin hơn. Khi lượng đường trong máu giảm xuống, tuyến tụy giải phóng glucagon để đưa chúng trở lại.

Lượng đường trong máu và sức khỏe

Cơ thể chuyển đổi carbohydrate từ thực phẩm thành đường (glucose), phục vụ như một nguồn năng lượng quan trọng. Lượng đường trong máu thay đổi trong suốt cả ngày nhưng, trong hầu hết các trường hợp, insulin và glucagon giữ mức bình thường.

Các yếu tố sức khỏe bao gồm kháng insulin, tiểu đường và các vấn đề về chế độ ăn có thể làm cho lượng đường trong máu của một người tăng cao hoặc giảm mạnh.

Lượng đường trong máu được đo bằng miligram trên mỗi decilitre (mg / dl). Phạm vi đường huyết lý tưởng như sau:

  • Trước khi ăn sáng – mức độ nên được ít hơn 100 mg / dl cho một người không có bệnh tiểu đường và 70-130 mg / dl cho một người bị bệnh tiểu đường.
  • Hai giờ sau bữa ăn – mức độ nên được ít hơn 140 mg / dl cho một người không có bệnh tiểu đường và ít hơn 180 mg / dl cho một người bị bệnh tiểu đường.

Quy định

[minh họa tuyến tụy giải phóng insulin và glucagon]

Lượng đường trong máu là thước đo mức độ cơ thể của một cá nhân sử dụng glucose hiệu quả như thế nào. Khi cơ thể không chuyển đổi đủ lượng đường để sử dụng, lượng đường trong máu vẫn cao. Insulin giúp các tế bào của cơ thể hấp thụ glucose, làm giảm lượng đường trong máu và cung cấp cho các tế bào glucose mà chúng cần cho năng lượng.

Khi lượng đường trong máu quá thấp, tuyến tụy giải phóng glucagon. Glucagon buộc gan tiết ra glucose được lưu trữ, làm cho lượng đường trong máu tăng lên.

Insulin và glucagon được giải phóng bởi các tế bào islet trong tuyến tụy. Những tế bào này được nhóm lại trong suốt tuyến tụy. Các tế bào islet beta (tế bào B) giải phóng insulin, và các tế bào islet alpha (một tế bào) giải phóng glucagon.

Cách insulin hoạt động

Cơ thể chuyển đổi năng lượng từ carbohydrate thành glucose. Các tế bào của cơ thể cần glucose cho năng lượng, nhưng hầu hết các tế bào không thể trực tiếp sử dụng glucose.

Insulin hoạt động như một chìa khóa để cho phép glucose để truy cập vào các tế bào. Nó bám vào các thụ thể insulin trên các tế bào khắp cơ thể, bảo các tế bào đó mở ra và cho phép glucose đi vào.

Mức insulin thấp liên tục lưu thông khắp cơ thể. Khi insulin tăng lên, điều này báo hiệu cho gan rằng lượng đường trong máu cũng cao. Gan hấp thụ glucose, sau đó thay đổi nó thành một phân tử lưu trữ gọi là glycogen.

Khi lượng đường trong máu giảm xuống, glucagon báo hiệu cho gan chuyển đổi glycogen trở lại thành glucose. Điều này làm cho lượng đường trong máu tăng lên.

Insulin cũng hỗ trợ chữa bệnh sau khi bị thương bằng cách cung cấp các axit amin cho cơ bắp. Axit amin giúp xây dựng các protein được tìm thấy trong mô cơ, vì vậy khi mức insulin thấp, cơ bắp có thể không lành mạnh.

Cách glucagon hoạt động

Gan phải lưu trữ glucose để cấp năng lượng cho các tế bào trong thời gian có lượng đường trong máu thấp. Bỏ bữa ăn và dinh dưỡng kém có thể làm giảm lượng đường trong máu. Bằng cách lưu trữ glucose, gan đảm bảo mức đường huyết ổn định giữa các bữa ăn hoặc trong khi ngủ.

Khi lượng đường trong máu giảm, các tế bào trong tuyến tụy tiết ra glucagon. Glucagon hướng dẫn gan chuyển đổi glycogen thành glucose. Điều này làm cho glucose có sẵn trong máu. Từ đó, insulin gắn vào thụ thể insulin trên các tế bào để đảm bảo chúng có thể hấp thu glucose.

Insulin và glucagon hoạt động trong một chu trình. Glucagon tương tác với gan để tăng lượng đường trong máu, trong khi insulin làm giảm lượng đường trong máu bằng cách giúp các tế bào sử dụng glucose.

Mức đường huyết ảnh hưởng đến cơ thể như thế nào

Insulin và glucagon không hoạt động ngay, đặc biệt nếu lượng đường trong máu rất cao hoặc rất thấp.

Đường huyết cao

Các triệu chứng của lượng đường trong máu cao bao gồm:

  • Đi tiểu thường xuyên hơn bình thường. Thận đáp ứng với lượng đường trong máu cao bằng cách cố gắng loại bỏ lượng đường dư thừa.
  • Cảm thấy khát quá mức, đặc biệt là khi đi tiểu thường xuyên. Khi thận cố gắng điều hòa lượng đường trong máu, nó có thể gây mất nước và cảm giác khát dữ dội.
  • Cảm thấy đói quá mức. Điều này không phải do đường huyết cao, mà do hiệu ứng insulin thấp thường đi kèm với lượng đường trong máu cao.

[phụ nữ trẻ cầm một ly nước và nhìn vào tủ lạnh]

Theo thời gian, lượng đường trong máu rất cao có thể gây ra:

  • giảm cân không rõ nguyên nhân
  • thời gian hồi máu chậm
  • ngứa, da khô
  • tăng khả năng nhiễm trùng
  • nhức đầu
  • mệt mỏi hoặc khó tập trung
  • mờ mắt
  • táo bón, tiêu chảy hoặc cả hai
  • rối loạn chức năng cương dương

Sự chậm trễ giữa các bữa ăn, dinh dưỡng kém, một số loại thuốc trị tiểu đường và một số bệnh trạng có thể gây ra lượng đường trong máu thấp.

Các triệu chứng của lượng đường trong máu thấp bao gồm:

  • chóng mặt
  • tim đập loạn nhịp
  • yếu đuối
  • ngứa ran, đặc biệt là trong lưỡi, môi, cánh tay hoặc chân
  • đói cùng buồn nôn
  • ngất xỉu
  • nhầm lẫn và khó tập trung
  • cáu gắt
  • co giật hoặc mất ý thức nếu không được điều trị

Vấn đề đường huyết do bệnh tiểu đường

Mặc dù yếu tố lối sống gây ra sự thay đổi lượng đường trong máu, nguyên nhân phổ biến nhất gây ra vấn đề đường trong máu là bệnh tiểu đường.

Có một số loại bệnh tiểu đường, được mô tả ở đây:

Bệnh tiểu đường loại 1

[một đứa trẻ có đo đường huyết]

Bệnh tiểu đường loại 1 làm cho các tế bào miễn dịch của cơ thể tấn công một số tế bào tiết insulin trong tuyến tụy.

Những người mắc bệnh tiểu đường loại 1 thường có lượng đường trong máu rất cao. Tuy nhiên, mức insulin thấp của chúng có nghĩa là chúng không thể sử dụng nhiều glucose trong máu.

Bệnh tiểu đường loại 1 là một loại tình trạng tự miễn dịch, có nghĩa là nó làm cho cơ thể tự tấn công. Nó thường phát triển trong thời thơ ấu, và đôi khi được gọi là bệnh tiểu đường vị thành niên.

Bệnh tiểu đường loại 2

Bệnh tiểu đường loại 2 là loại bệnh tiểu đường phổ biến nhất và có liên quan đến các vấn đề về lối sống như thừa cân.

Những người mắc bệnh tiểu đường loại 2 có kháng insulin. Điều này có nghĩa là insulin không hoạt động tốt để cho phép các tế bào tiếp cận với glucose.

Tiểu đường thai kỳ

Đái tháo đường thai kỳ là một dạng bệnh tiểu đường xảy ra trong thai kỳ.

Khi một phụ nữ mang thai, nhau thai hỗ trợ em bé đang phát triển có thể làm suy yếu khả năng sử dụng insulin của cơ thể. Điều này gây ra kháng insulin gây ra các triệu chứng tương tự như các triệu chứng của bệnh tiểu đường loại 2.

Bệnh tiểu đường thai kỳ thường biến mất sau khi em bé được sinh ra. Tuy nhiên, nó là một yếu tố nguy cơ cho sự phát triển sau này của bệnh tiểu đường loại 2.

Like this post? Please share to your friends: